Monthly Archives: January 2015

Biến chứng thường gặp ở người bị TBMMN và cách phòng chống.

BIẾN CHỨNG THƯỜNG GẶP Ở NGƯỜI BỊ TBMMN VÀ CÁCH PHÒNG CHỐNG

Hiện nay, số người bị TBMMN ngày càng tăng. Tại Mỹ, TBMMN là một trong ba nguyên nhân đầu tiên gây chết tại Mỹ, ước lượng khoảng chừng 500.000 người Mỹ mỗi năm bị TBMMN. Trong số đó khoảng 50% cần được sự giúp đỡ của bệnh viện. Tuổi thường gặp: 60-70 tuổi, ở tuổi đó thì thường mắc phải nhiều chứng bệnh khác nhau (tăng HA, tăng lipid trong máu, xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành…). Do đó cần nắm một số điểm căn bản để xử trí một số biến chứng thông thường của người bị TBMMN. Biến chứng bao gồm: loét, cứng khớp, viêm đường tiết niệu, viêm phổi, trật khớp vai.

Continue reading

Phòng ngừa tai biến mạch máu não và phòng ngừa tai biến tái phát.

Vấn đề phục hồi chức năng có ý nghĩa rất lớn với người bệnh tai biến mạch máu não, có ý nghĩa kéo dài sự sống và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Mục tiêu của phục hồi chức năng là chống teo cơ và cứng khớp giúp tăng phần nào sức cơ. Phục hồi chức năng gồm các vấn đề chính sau đây:

Continue reading

Một số vấn đề cần lưu ý trong chăm sóc người bị tai biến mạch máu não.

+ Nguyên nhân của tai biến mạch máu não.

Trên thực tế rất khó xác định nguyên nhân gây ra tai biến mạch máu não, với phương tiện chẩn đoán hiện đại là CT- Scan chúng cũng chi có thể xác định được dạng tai biến mạch máu não là nhũn não hay xuất huyêt não chứ không xác định được nguyên nhân gây ra tai biến mạch máu não. Về mặt lý thuyết người ta nhận thấy xuất huyết não hay chảy máu trong là do vỡ động mạch ở não (có thể do huyết áp cao làm vỡ động mạch máu não hoặc do vỡ mạch máu não bị dị dạng bẩm sinh). Nhũn não thường do mạch máu não bị tắc nghẽn. Sự tắc nghẽn này do nhiều lý do trong đó có liên, quan đến xơ động mạch, một số bệnh tim mạch tạo ra cục máu đông trong tim theo dòng máu lên não làm tắc động mạch não.

Continue reading

Tai biến mạch máu não (TBMMN) là gì?

Khi điều trị ngoại trú không nên tuỳ tiện thay đổi thuốc, thay đổi dạng bào chế, liều dùng, vì khi thay đổi thì tác dụng của thuốc cũng thay đổi theo, có thể gây ra nhiều bất lợi. Khi bị bệnh tăng huyết áp kèm thêm một bệnh khác hoặc khi do điêu kiện bệnh tật bắt buộc phải dùng cùng với một thuốc khác thì phải rất thận trọng, cần đo huyết áp định kỳ, và nhất thiết phải có chỉ định của thầy thuốc.

Continue reading

Thuốc chẹn calci có một số tác dụng phụ và một số chống chỉ định chung.

Đây là điểm hơn hẳn của các thuốc thế hệ III so với thế hệ I và thế hệ II. Tuy nhiên thuốc cũng có gây đỏ phừng mặt; nhức đầu, phù cổ chân nhẹ. Tác dụng không mong muốn này là vô hại, được lợi dụng để đánh giá khả năng dung nạp và độ an toàn của thuốc trên từng cá thể. Người tăng huyết áp kèm thêm suy tim mạn tính dùng thuốc này khá an toàn.

Continue reading

Thuốc kháng calci thế hệ I, II, III.

Do đó, nhóm thuốc này làm cải thiện được huyết động: tăng cung lượng máu mạch vành, hạ huyết áp động mạch giảm sức co bóp cơ tim, làm giảm nhu cầu oxy, nhưng tăng lượng oxy đến tim, cải thiện hiệu suất tim. Tùy theo tác dụng ưu tiên trên động mạch hay trên tim ủa từng loại thuộc, từng dạng bào chế, liều dùng mà chúng được chọn dùng chữa các bệnh về tim hay chữa tăng huyết áp là chính.

Continue reading